Thiên tài người Ý - Leonardo da Vinci

 Thiên tài người Ý - Leonardo da Vinci

Leonardo da Vinci (1452-1519) là một họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhạc sĩ, bác sĩ, kỹ sư, nhà giải phẫu, nhà sáng tạo và triết học tự nhiên. Ông được coi là một thiên tài toàn năng người Ý.

Leonardo da Vinci tên đầy đủ là Leonardo di ser Piero da Vinci, sinh ngày 15/04/1452 tại thị trấn Vinci vùng Tuscan, thuộc thung lũng hạ lưu sông Arno. Ông sống cùng cha là công chứng viên Ser Piero. Ngay từ nhỏ, Leonardo da Vinci đã yêu thích âm nhạc, vẽ và tạo hình. Có một lần, cha của Leonardo mang những bức vẽ của con trai tới nhà người bạn thân là Andrea del Verrocchio - họa sĩ nổi danh ở Florence thời bấy giờ. Verrocchio đã rất kinh ngạc về tài năng thiên bẩm của Leonardo da Vinci và quyết định trở thành thầy của Leonardo.
Từ năm 1470 - 1477, Leonardo làm việc tại xưởng vẽ của thầy. Trong bức tranh “The Baptism of Chirst”, chính Leonardo là người đã vẽ hình thiên thần trẻ quỳ bên dưới giữ áo choàng cho chúa Jesus. Điều này khiến Verrocchio nhận ra rằng tài năng của Leonardo đã vượt xa ông. Và kể từ đó, Verrocchio đã không vẽ thêm một lần nào nữa.

Năm 1472, ông được ghi nhận là một bậc thầy tài năng trong Guild of St Luke - một phường hội họa và y sỹ uy tín. Từ năm 1482, Leonardo da Vinci bắt đầu làm việc như một họa sĩ độc lập và chuyển đến Milano để thực hiện tượng đài kỵ sĩ theo mong muốn của công tước Ludovico Sforza. Bức tượng kỵ sĩ cao 7 mét được hoàn thành vào cuối năm 1493.
Trong khoảng thời gian từ 1495 - 1497, Leonardo vẽ một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của ông, bức bích họa “Bữa ăn tối cuối cùng” trong nhà thờ Santa Maria delle Grazie theo yêu cầu của Ludovico Sforza. Năm 1980 nhà thờ cùng với bức tranh đã được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.
Tháng 12/1499, Leonardo rời thành phố Milano đến Firenze. Năm 1500, Leonardo được các thầy tu dòng Servite ở nhà thờ Santissima Annunziata, Florence cấp cho một xưởng làm việc riêng. Năm 1502, với tư cách là một kỹ sư và kiến trúc sư phục vụ Cesare Borgia (con trai Giáo hoàng Alexander VI), Leonardo đã đi khắp nước Ý. Sau khi vẽ tấm bản đồ gây ấn tượng của Imola, Leonardo được thuê làm kỹ sư trưởng về quân sự của Cesare.
Ngày 18/10/1503, Leonardo da Vinci gia nhập Hội đoàn Thánh Luke. Trong 2 năm tiếp theo, ông thiết kế và vẽ bức tranh tường về trận đánh ở Anghiari.
Từ năm 1503 đến khoảng năm 1507, Leonardo hoàn thành bức họa “Mona Lisa” (hay còn gọi là “La Gioconda”). Bức tranh được phỏng đoán là bức chân dung của Lisa del Giocondo, vợ của một người buôn bán tơ lụa tại Firenze. Đôi mắt và nụ cười của nàng Mona Lisa tạo ra một sự bí ẩn, cuốn hút kì lạ. Những cái bóng ở khóe miệng và mắt là lý do khiến chúng hấp dẫn. Cho đến ngày nay chưa một ai có thể sao chép lại được nụ cười trong bức tranh này.

Leonardo da Vinci mất ngày 02/05/1519 tại Amboise, Pháp. Trong cuộc đời của mình, Leonardo Da Vinci còn là chủ nhân của nhiều phát minh và ý tưởng khoa học đi trước thời đại.

Kiệt tác Mona Lisa 
Mona Lisa (La Gioconda hay La Joconde, Chân dung Lisa Gherardini, vợ của Francesco del Giocondo) là một bức chân dung thế kỷ 16 được vẽ bằng sơn dầu trên tấm gỗ dương tại Florence bởi Leonardo da Vinci trong thời kì Phục Hưng Italia. Tác phẩm thuộc sở hữu của Chính phủ Pháp và hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre ở Paris, Pháp với tên gọi Chân dung Lisa Gherardini, vợ của Francesco del Giocondo.
Bức tranh là một bức chân dung nửa người và thể hiện một phụ nữ có những nét thể hiện trên khuôn mặt thường được miêu tả là bí ẩn. Sự mơ hồ trong nét thể hiện của người mẫu, sự lạ thường của thành phần nửa khuôn mặt, và sự huyền ảo của các kiểu mẫu hình thức và không khí hư ảo là những tính chất mới lạ góp phần vào sức mê hoặc của bức tranh. Có lẽ nó là bức tranh nổi tiếng nhất từng bị đánh cắp và được thu hồi về bảo tàng Louvre. Ít tác phẩm nghệ thuật khác từng là chủ đề của nhiều sự chăm sóc kỹ lưỡng, nghiên cứu, thần thoại hoá và bắt chước tới như vậy.

"The Last Supper" (Bữa ăn tối cuối cùng) là bức bích họa nổi tiếng của danh họa Leonardo da Vinci.
Tác phẩm được sáng tác vào khoảng năm 1495 đến 1498. Bức bích họa miêu tả trai phòng của Tu viện Santa Maria ở thành phố Milano.

Theo các sách phúc âm, bữa ăn tối cuối cùng là bữa ăn sau cùng Chúa Giê-xu chia sẻ với các môn đồ trước khi ngài chết. Bức tranh của Vinci mô tả lại một chương trong sách trong Kinh Thánh rằng: Judas — một trong số các môn đệ của Chúa Giêsu — tố giác với nhà cầm quyền La Mã để bán đứng người thầy của mình đổi lấy 30 thỏi bạc. Ở bữa ăn tối cuối cùng, Chúa Jesus (ở chính giữa bức tranh), đang nói với các môn đồ: "Trong các người có kẻ muốn bán rẻ ta". Bức The last supper (Bữa tối cuối cùng) làm cho người xem cảm nhận một ẩn dụ sâu sắc về thị giác, đồng thời cũng đề cập đến một khía cạnh hoàn toàn mới của Kinh Tân Ước. Chúa ngồi ở giữa, tay trái đặt ngửa giữa bàn (tay của trái tim), tay phải lập sấp cùng lời người đã phán ra: "Ở trong số các người có một người sẽ phản ta. Người đó là ai?" Câu nói ấy của Chúa gây những phản ứng khác nhau trên từng khuôn mặt và hành động của các Thánh tông đồ, từ phải sang trái, từng nhóm ba người. Kinh ngạc, nghi ngờ, đau xót, căm giận. Mười hai môn đồ ngồi trong bàn ăn, mỗi người có một vẻ mặt khác nhau: ba người thì thầm bàn bạc; ba người tỏ vẻ giận dữ (trong đó có một người đập mạnh tay xuống bàn); một người lộ vẻ nghi ngờ; một người tỏ ra ngạc nhiên; một người ngồi ngay ngắn tỏ lòng trung thành; hai người nữa lộ vẻ xúc động. Chỉ có một môn đồ mặt tái nhợt, lưng hơi ngả về sau, tay nắm chặt túi tiền — đó chính là Judas. Sau lưng Judas là một khoảng tối, còn sau lưng chúa Jesus là hình ảnh cửa sổ đầy ánh sáng. Những tia sáng chiếu vào gương mặt Jesus làm ánh lên vẻ điềm tĩnh, hiền từ và cương nghị. Sự tương phản này được cho là biểu đạt được sự căm thù của tác giả đối với gian ác, cũng như sự ngưỡng vọng đối với chính nghĩa. Để vẽ nên bức tranh này, Vinci đã gặp không ít khó khăn nhất là phải xử lý nhân vật Judas như thế nào. Để giải quyết khó khăn này, hàng ngày Vinci phải đi lang thang trong thành phố, quan sát cử chỉ, hành động của bọn tội phạm, lưu manh rồi vẽ đi vẽ lại hàng trăm bức vẽ Judas ở các tư thế khác nhau. Việc đi lung tung trong thành phố như vậy đã nảy sinh lòng nghi ngờ của bao người, trong đó có vị trưởng Tu viện. Sau đó, nhờ thị trưởng thành phố, Vinci đã giải quyết được hiểu lầm, và bức tranh ngày nay vẫn còn trên tường của tu viện. Leonardo da Vinci vẽ bức "Bữa ăn chiều cuối cùng" (The last supper) mất bảy năm liền. Đó là bức tranh vẽ Đức chúa trời và mười hai vị tông đồ trong bữa ăn cuối cùng trước khi Chúa bị Judas phản bội. Leonardo tìm người mẫu rất công phu. Giữa hàng ngàn thanh niên, ông chọn được một chàng trai 19 tuổi có gương mặt thánh thiện, một nhân cách tinh khiết tuyệt đối để làm mẫu vẽ Chúa Jesus. Da Vinci làm việc không mệt mỏi suốt sáu tháng trước chàng trai, và hình ảnh Chúa Jesus được hiện trên bức vẽ. Sáu năm tiếp theo ông lần lượt vẽ xong 12 vị tông đồ, chỉ còn có Judas, vị môn đồ đã phản bội Chúa vì 30 đồng bạc, tương đương 16.96 đô la Mỹ và tương đương 254.400 đồng Việt Nam. Hoạ sĩ muốn tìm một người đàn ông có khuôn mặt hằn lên sự hám lợi, lừa lọc, đạo đức giả và cực kỳ tàn ác. Khuôn mặt đó phải toát lên tính cách của kẻ sẵn sàng bán đứng người bạn thân nhất, người thầy kính yêu nhất của chính mình... Cuộc tìm kiếm dường như vô vọng. Bao nhiêu gương mặt xấu xa nhất, độc ác nhất, Vinci đều thấy rằng chưa đủ để bộ lộ cái ác của Judas. Một hôm, Vinci được thông báo rằng có một kẻ mà ngoại hình có thể đáp ứng được yêu cầu của ông. Hắn đang ở trong một hầm ngục ở Roma, bị kết án tử hình vì giết người và phạm rất nhiều tội ác tày trời khác. Da Vinci lập tức lên đường đến Roma. Trước mắt ông là một gã đàn ông nước da đen sậm với mái tóc dài bẩn thỉu phủ xoà xuống mặt, một khuôn mặt xấu xa, độc ác tự nó nói lên nhân cách của một kẻ hoàn toàn bị tha hoá. Đúng, đây là Judas! Được sự cho phép đặc biệt của Đức Vua, người tù được đưa tới Milan nơi bức tranh đang được vẽ dở. Mỗi ngày, tên tù im lặng ngồi trước Da Vinci và hoạ sĩ thiên tài cần mẫn với công viêc truyền tải vào bức tranh diện mạo của kẻ phản phúc. Khi nét vẽ cuối cùng hoàn thành, kiệt sức vì phải đối mặt với cái ác một thời gian dài, Vinci quay sang bảo lính gác "Các ngươi đem hắn đi đi...". Lính canh túm lấy kẻ tử tù, nhưng hắn đột nhiên vùng ra và lao đến quì xuống bên chân Da Vanci, khóc nấc lên: "Ôi, ngài Da Vinci! Hãy nhìn con! Ngài không nhận ra con ư?" Da Vinci quan sát kẻ mà suốt sáu tháng qua ông đã liên tục nhìn mặt. Cuối cùng ông đáp: "Không, ta chưa từng nhìn thấy ngươi cho đến khi ngươi được đưa đến cho ta từ hầm ngục ở Roma...". Tên tử tù kêu lên "Ngài Vinci... Hãy nhìn kỹ lại tôi! Tôi chính là người mà bảy năm trước ông đã chọn làm mẫu để vẽ Chúa Trời..." Câu chuyện này có thật, như bức tranh "Bữa ăn chiều cuối cùng" là có thật. Chàng trai đã từng được chọn làm hình mẫu của Chúa Trời chỉ sau hơn hai ngàn ngày, đã tự biến mình thành hình tượng hoàn hảo của kẻ phản bội ghê gớm nhất trong lịch sử.

"The Adoration of the Magi" (Sự tôn thờ của các vị thần) là một bức tranh đầu tiên của Leonardo da Vinci năm 1480. Bức tranh được để tại tu viện San Donato, gần thành phố Florence. Da Vinci tự ấn định cho mình thời gian 30 năm để hoàn tất tác phẩm nhưng thật ra họa phẩm chưa bao giờ được hoàn chỉnh. Bức tranh đã có mặt trong phòng trưng bày Uffizi ở Florence từ năm 1670.

"Baptism of Christ" (Bí Tích Rửa Tội của Chúa Kitô) là bức tranh nổi tiếng của bậc thầy của Da Vinci, Andrea del Verrochio vào khoảng năm 1472. Bức tranh được Verrochio hoàn thành cùng với người học việc Da Vinci đã vẽ và hoàn thành các chi tiết của một số phần của bức tranh, đặc biệt là thiên thần.

"Virgin of the Rocks" gồm hai phiên bản, một tại Paris (trong hình) và một tại Luân Đôn. Các bức tranh đều cao gần 2 mét và được sơn bằng dầu. Cả hai đều được sơn trên bảng gỗ. Hai bức tranh được kết hợp với hoa hồng: mỗi bên bao gồm một thiên thần chơi một nhạc cụ và hoàn thành bởi các cộng sự của Leonardo.

"Virgin of the Rocks" gồm hai phiên bản, một tại Paris và một tại Luân Đôn (trong hình). Các bức tranh đều cao gần 2 mét và được sơn bằng dầu. Cả hai đều được sơn trên bảng gỗ. Hai bức tranh được kết hợp với hoa hồng: mỗi bên bao gồm một thiên thần chơi một nhạc cụ và hoàn thành bởi các cộng sự của Leonardo.

"Madonna of the Carnation" Virgin Mary và Chúa Hài đồng là những nhân vật quan trọng trong Thiên Chúa Giáo. Đậy là bức tranh sơn dầu thời Phục hưng của Leonardo da Vinci, sáng tác khoảng 1478-1480. Tranh được trưng bày vĩnh viễn tại Gallery Alte Pinakothek, Munich, Đức.

"St. John the Baptist" sáng tác trong khoảng thời gian 1513-1516 và được coi là một trong những họa phẩm cuối cùng của Da Vinci. Tranh hiện được trưng bày tại Bảo tàng Louvre ở Paris, Pháp.

"The Virgin and Child with St. Anne" là bức tranh sơn dầu của Leonardo da Vinci mô tả hài nhi Jesus đang chơi với một con cừu. Tranh được sáng tác năm 1510 và hiện được trung bày tai Bảo tàng Louvre.

Bức chân dung của nàng Cecilia được vẽ vào năm 1489/1490 bởi danh họa bí ẩn Leonardo da Vinci là một trong số các di sản văn hóa kiệt xuất ông để lại cho nền hội họa thế giới. Bức tranh chứa đầy sự tinh tế và đầy ẩn ý được Leonardo diễn đạt bằng ngôn ngữ hội họa, đặc biệt hơn, ông phá vỡ những cách thức vẽ chân dung phổ biến giai đoạn ông sống, vì ông đã đem đến một bức chân dung không phải như vẽ một cô dâu Cecilia mà là một người tình bí mật của Ludovio Sforza..Leonardo da Vinci đã tạo ra sự bứt phá trong phong cách vẽ chân dung của ông so với truyền thống, cách sắp đặt cứng nhắc là phần đầu và phần thân trên cùng quay về một hướng. Trong bức tranh nàng Cecilia, đầu nàng và phần thân trên hướng về hai hướng khác nhau: phần thân trên cơ thể hướng về bên trái, phần đầu hướng về bên phải. Chân dung nàng Cecilia vì vậy đã tạo nên cảm giác nàng đang sống, chuyển động trước mắt người xem, bức tranh đã tạo nên luận thuyết vẽ tranh của riêng Leonardo da Vinci. Sự nổi tiếng rộng khắp về bức tranh không phải chỉ đến từ chân dung nàng Cecilia mà còn một phần là sự xuất hiện đầy chuyển động của con chồn màu trắng ermine đang áp mình bên người đàn bà trẻ. Sự thanh tao, quý phái của nàng Cecilia đã được làm tăng lên bởi hình ảnh bàn tay lớn của nàng che trở cho con chồn nhỏ bé, cử chỉ đồng điệu của bàn tay nàng và chân trái trước của con chồn thể hiện hàm ý của sự tin tưởng, chấp thuận lẫn nhau.Sự xuất hiện của con chồn trong tranh còn có một hàm ý khác mô tả họ của nàng Cecilia, bởi vì âm tiết Galle-rain gợi nhắc đến âm của từ con chồn trong tiếng Hy lạp là Gallée. Mặt khác con chồn còn là biểu tượng của sự thanh khiết và sạch sẽ, mà theo đó, nó rất ghét cái bẩn và chỉ ăn một lần duy nhất trong ngày. Leonardo đã đề cập đến những phẩm chất của con chồn trong một bản viết tay của ông, trong đó ông viết những ghi nhớ về những điểm ngụ ý quan trọng (có tính chất biểu tượng) về những con vật. Sự thuần khiết mang tính truyền thuyết của con chồn cũng từng được Leonardo thể hiện trong một bức tranh ông vẽ bằng bút chì năm 1490, ngụ ý rằng, con chồn thà bị đánh chết còn hơn làm bị bẩn bộ lông trắng của nó trong nước bẩn. Con chồn trong cánh tay nàng Cecilia không chỉ hàm ý là một con chồn Ermine, mà nó còn là một biểu tượng của sự thuần khiết và tiết hạnh. Nó chính là ám chỉ hình ảnh của người chủ bức tranh, Ludivico, cũng là người tình của nàng, được vuốt ve âu yếm trong vòng tay nàng Cecilia. Phương pháp biểu tượng so sánh phức tạp của bức chân dung này, và hình ảnh nâng niu chiều chuộng mà bức tranh thể hiện, giải thích cho một thực tế rằng nàng là người tình bí mật của Ludivico Sforza. Cecilia Bergarmini sinh 1473, lúc 10 tuổi nàng đã được đính hôn với Giovanini Stefano Visconti. Việc đính hôn này đã bị hủy bỏ vào năm 1487, không lâu sau đó khoảng 1489 nàng trở thành người tình bí mật của Ludivico Sforza, người đã đính hôn với Beatrice d’Este (1475-1497) từ năm 1480. Đám cưới long trọng, chính thức giữa Ludivico và Beatrice d’Este đã bị hoãn vào năm 1490 mà hậu quả của nó là mối quan hệ giữa Ludivico và Cecilia. Vì vậy công sứ Ferrarese tại Milan, Giacomo Trotti, đã viết vào tháng 11/1490 rằng Ludivico đã không toàn tâm cho đám cưới mà coi nàng Cecilia như là một tinh yêu đích thực, là bông hoa và hơn thế nữa và có thai cùng nàng. Để tránh sự nổi giận của cô dâu tương lai Beatrice, trong năm 1491 Cecilia đã rời khỏi nơi ở của một công tước, như một sự đề phòng, và về nơi ở mới, nơi ngày 3/5 cô đã sinh một câu con trai, Ceasare. Có vô số cách suy luận về biểu tượng con vật, tuy nhiên chúng ta có một tổng kết quan trọng như sau: Carlo Pedretti (1990) hiểu bức tranh như là một ngụ ý chính trị của mối quan hệ giữa Fedinand I của Naples và Ludivico il Moro, người của Fedinand đã được chỉ định là một thành viên của “Order of the Ermine” vào năm 1488. Một sự tìm tòi rất khác về tư duy được thuyết phục bởi Krystina Moczulka (1995), người đã đánh giá tầm quan trọng của con chồn và con chồn trong văn học cổ điển và trong niềm tin của công chúng và người liên quan trực tiếp đến con vật biểu tượng trong hoàn cảnh của nàng Cecilia dẫn đến cái thai của nàng. Cecilia vì vậy đã liên quan đến câu chuyện nàng Alcmena trong Ovid’s metamorphoses và Aelian’s De natura animalium. Nàng Alcmena đã được mang thai với chúa tể các vị thần là thần Zeus, chồng của nữ thần Hera, nữ thần đã chống lại sự ra đời của đứa bé, Hercules. Nữ thần Hera đã nhận được sự trợ giúp của người hầu Galathis, người mà sau đó biến thành một con chồn. Trong niềm tin của công chúng, hoàn cảnh của Cecilia và Ludivico 1489/1890 lúc đó tượng tự, và con chồn là một con vật bảo vệ người phụ nữ mang thai.
Kỹ thuật bậc thầy của Leonardo da Vinci chất đậm trong, nàng Cecilia có khuôn mặt quý phái với cái trán rộng, cặp mắt trong sáng, chiếc mũi nhỏ gọn cân đối với làn môi, cái cằm hướng về trước toát lên khí chất thông minh và cả sự bướng bỉnh bằng ý trí với tình yêu của nàng cho người tình. Cái miệng với làn môi mím chặt là hàm ý sự khiêm nhường, kín đáo, chấp thuận, nó như một mô tả khôi hài về tính cách của phụ nữ thích nghe hơn nói, như một thông điệp im lặng là sự lịch thiệp. Hãy nhìn kỹ vào bàn tay nàng, ta như thấy cả đường gân, thớ thịt, mạch máu chảy phập phồng dưới làn da trắng của nàng, quả là một kỹ thuật vẽ bậc thầy. Con chồn có cặp mắt thật sắc, tinh quái cùng những móng vuốt nhỏ sắc nhọn của những cái chân cơ bắp săn chắc đang bấu chặt không cho nàng dời xa, đó chính là biểu tượng hoàn hảo cho một người tình bí mật. Hướng nhìn của cái đầu con chồn cùng hướng nhìn của nàng Cecilia càng làm tăng thêm những ẩn ý. Nền tranh được sơn màu xanh đen thẫm, đối lập với sắc bừng sáng của nàng và con chồn, càng làm nổi bật sự cuồng nhiệt đang bùng nổ trong vẻ ngoài quý phái, lạnh lùng pha chút nhẫn nhịn của nàng Cecilia.

Bức tranh có kích thước 55 x40.5 cm, được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ làm từ những mẩu gỗ nhỏ của cùng một cây gỗ óc chó, cho đến ngày nay, bức tranh vẫn hoàn hảo.

WWW.CUAHANGTEMSACH.COM

Giao lưu tem thư sưu tập, cung cấp tư vấn nhiều thể loại tem thư vật phẩm sưu tập, nhiều chuyên đề tem mới nhất cho bạn
liên hệ: zalo & viber 0908338796