Raphael - Họa sĩ của Giáo Hội
Vị Thánh hội họa của Phong trào Phục hưng 

Họa sĩ Raphael

Raphael tên thật là Raffaello Sanzio da Urbino, là một họa sĩ nổi tiếng người Ý. Ông là một họa sĩ cùng thời với các danh họa Michelangelo và Leonardo da Vinci, và cả ba người đều là những người thầy vĩ đại của hội họa thế giới vào thời đó.
Họa sĩ Raphael là một người đam mê sáng tác, ông vẽ không ngừng nghỉ và đã có một xưởng vẽ rất lớn. Đến nay, nhiều tác phẩm của ông được tìm thấy ở tòa thánh Vatican. Bức bích họa Raphael Rooms của Raphael được đặt ngay ở vị trí trung tâm, đây được xem là bức họa đẹp nhất của danh họa này. Một tác phẩm nổi tiếng khác của Raphael được trưng bày tại tòa nhà Vatican Stanza della Segnatura là "The School of Athens".
Danh họa Raphael qua đời ngày 06/04/1520 tại Rome, Ý.

Ông sinh tại một thành phố nhỏ Urbino nhưng quan trọng về mặt nghệ thuật ở miền trung Ý trong vùng Marche,nơi cha ông Giovanni Santi là họa sĩ riêng của Công tước. Danh tiếng của nhóm nghệ sĩ đã được tạo dựng bởi Federico III da Montefeltro, một Tư lệnh thành công lớn đã được Giáo hoàng phong là công tước Urbino – và qua đời một năm trước khi Raphael được sinh ra. Sự nhấn mạnh của nhóm văn nghệ Federico bao gồm khá nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật hơn, nhưng Giovanni Santi là một nhà thơ kiêm họa sĩ, ông đã viết một trường ca mô tả cuộc đời của Federico, và cả hai đã viết văn thơ và sản xuất các trang trí cho nhóm như một hình thức vui chơi giải trí. Bài thơ của ông dành cho Federico cho thấy ông đã thể hiện nhận thức của các họa sĩ Bắc Ý tiên tiến nhất, và các nghệ sĩ Hà Lan trong giai đoạn đầu. Trong nhóm nghệ sĩ rất nhỏ của Urbino ông có lẽ đã được coi là thành viên của gia đình cầm quyền hơn so với hầu hết các họa sĩ trong cùng nhóm.
Federico mất đi và được con trai của ông Guidobaldo da Montefeltro kế vị, người đã kết hôn với Elisabetta Gonzaga – con gái của vua vùng Mantua, nơi nổi tiếng nhất nước Ý với các hoạt động âm nhạc và nghệ thuật tạo hình. Dưới sự tài trợ của hai vợ chồng, nhóm nghệ sĩ của Ubino vẫn tiếp tục là một trung tâm văn học nghệ thuật. Lớn lên trong cộng đồng văn hóa này đã tạo điều kiện cho Raphael nghệ thuật cư xử và kỹ năng xã hội tuyệt vời, sử gia Vasari nhấn mạnh. Hình thức phát triển văn hóa nghệ thuật này tại Urbino đã trở thành hình mẫu của một loạt các tổ chức nhân văn trên toàn nước Ý qua việc mô tả chi tiết của Baldassare Castiglione trong tác phẩm The Book of the Courtier kinh điển của ông, xuất bản năm 1528. Castiglione chuyển đến Urbino vào năm 1504, khi Raphael đã không còn ở đó nữa nhưng thường xuyên ghé qua, và họ đã trở thành những người bạn tốt của nhau. Castiglione trở nên thân thiết với những khách mời thường xuyên của nhóm –Pietro Bibbiena và Pietro Bembo – cả hai sau đó đều trở thành Hồng y. Hai người lúc đó đều đã là các nhà văn nổi tiếng, trong tương lai đều ở Rome khi Raphael tới đó. Raphael hòa nhập một cách dễ dàng trong giới thượng lưu trong suốt cuộc đời của ông, đây là một trong những yếu tố tạo ra một ấn tượng sai lệch về sự thành công dễ dàng trong sự nghiệp của Raphael. Mặc dù ông đã không được giáo dục một đầy đủ, nhưng cũng không rõ vì sao ông lại đọc tiếng Latin một cách dễ dàng.
Từ năm 1508, ông nhận lời mời của Giáo hoàng, đã vẽ một chùm bích hoạ trong thánh thất Vatican trong vòng 5 năm. Cho đến tận ngày nay ta cũng có thể chiêm ngưỡng tác phẩm đó ở 4 bức bích hoạ trên 4 bức tường trong thánh thất Vatican. Năm đó Giáo hoàng đã yêu cầu Raffaello vẽ 4 bức bích hoạ hàm chứa 4 nội dung: Thần học, Triết học, Văn nghệ, Pháp luật. Trong bức Triết học là một toà kiến trúc lớn trải dài từ gần đến xa, xa hơn là một mái vòm. Hai nhà triết học vĩ đại đi phía trước là Platon và Aristotle, phía sau là những nhà triết học, khoa học cổ Hi Lạp. Raffaello muốn thể hiện cho những người kế tục tư tưởng văn hoá cổ Hy Lạp đã vượt lên trên thế hệ trước của mình. Nói tóm lại, Raffaello đã từ bỏ lối vẽ cứng nhắc khi bàn về vấn đề Tôn giáo mà thay vào đó là những nội dung tư tưởng phục hưng văn hoá cổ Hi Lạp, hình thành nên những cấu tứ độc đáo, mới lạ.
Ngoài chuyên môn hoạ sĩ, Raffaello còn là một kiến trúc sư lỗi lạc. Bằng chứng là việc thiết kế nhà thờ Thánh Pie tại Vatican ở Roma.Ông cũng đã có những đóng góp quan trọng trong quy hoạch tổng thể Nhà thờ lớn và đồng thời còn là người phụ trách công việc thi công công trình này.
Khi công trình chưa hoàn thành thì ông mất. Với những cống hiến to lớn của mình thì danh hiệu Thánh hội hoạ của thời kì văn hóa Phục Hưng xứng đáng với ông. Nội dung thường là tôn giáo và lịch sử.
Danh hoạ Raphael là 1 trong những hoạ sĩ vĩ đại nhất, hoạ sĩ số 1 của nhà thờ Thiên chúa giáo, tính hoa của thời đại Phục hưng Italia. Trong cuộc đời 37 năm ngắn ngủi của mình, Raphael đã làm nên 1 phong cách hội hoạ và 1 nhân cách có sức hấp dẫn lạ thường, không ngừng làm kinh ngạc và say mê những người yêu chuộng mỹ thuật trên khắp các châu lục.
Raphael cùng với Leonardo Da Vinci, Michel Angelo, Titian trở thành những đại biểu xuất sắc nhất của mỹ thuật phục hưng Italia. Trong đó, nếu Da Vinci là thiên tài hội hoạ với nhiều kiếm tìm khám phá, xây dựng nhiều quy tắc và phát minh như phép phối cảnh (perspective) trong hội hoạ, MIchelangelo tác giả của 1 khối lượng khổng lồ những tác phẩm nghệ thuật của cái bi thương nhưng hùng tráng, Titian để lại rất nhiều tác phẩm với màu sắc lộng lẫy thiết tha thì Raphael là người có tài tinh lọc những gì là tốt đẹp nhất trong mỹ thuật của các bậc tiền bối. Raphael là người có tài kết hợp cả những điều khó kết hợp nhất: rất xưa mà nay, huyền thoại với đời thường, thiêng liêng thánh thiện với trần gian gần gũi.. để làm nên những tác phẩm bất hủ với bố cục hoành tráng mang tính tổng hợp của các phong cách Phục hưng.
Raphael sinh năm 1483 tại Urbino. Thời gian hềc tập ở Urbino và Peruga, Raphael từng là học trò của danh hoạ Pietro Perugino (1450 – 1523). Thời kì mở đầu này, Raphael đã vẽ nhiều tranh chịu ảnh hưởng của thầy, có thể kể như : Thánh Niccolo (Saint Niccolo da Tolantino Altarpiece 1501. Bảo tang Capodimonte, Naples); Jesus chịu đóng đinh trên thánh giá (The Crucifixion 1502. Phòng tranh quốc gia London); Trao vương miện trinh nữ (Coronation of the Virgin 1503. Vatican); Lễ cưới trinh nữ (Marriage of the Virgin 1504, Phòng tranh Brera, Milan)
Năm 1504 Raphael tới Florence – Raphael đã gặp Leonardo da Vinci và Michelangelo đang làm việc ở đây. Raphael đã học tập những nghệ sĩ tài ba đã nổi tiếng này và sang tạo nên những tác phẩm của tiêng mình. Trong khoảng thời gian 4 năm ở Florence, Raphael đã vẽ nhiều tranh, trong đó có những bức nổi tiếng như: Đức Bà và hài Đồng lên ngôi với 5 thánh (the Madona and Child enthroned with 5 Saints – 1505. Bảo tàng Metropolitan, New York), Thánh Micheal và con rồng (Saint Micheal and dragon – 1505. Bảo tàng Louvre, Paris), Chân dung Angelo Doni (Portrait of Angelo Doni 1506. Phòng tranh Pitti, Florence), Hạ huyệt (The entombment 1507. Phòng tranh Borghese, Roma)
Năm 1508, Raphael được Giáo hoàng Julius II mời tới làm việc tại Roma. Chính ở đây, ông đã có nhiều tác phẩm nổi tiếng thế giới như: Tranh luận về lễ ban phước (Dispute 1509 – 1510, Vatican, Roma), Trưọng Athenes (The School of Athènes, 1510 – 1511. Vatican, Roma). Đặc biệt là 1 loạt tranh tôn giáo rất đẹp như: Đức bà Alba (the Alba Madonna. 1511. Phòng tranh quốc gia Washington), đặc biệt nhất là bức Đức bà Sixtine ( The Sistine Madonna, 1512 – 1513. Bảo tàng Dresden). Kiệt tác này là đỉnh cao và sự tổng kết về tranh Thiên chúa giáo. Trướng Athenes là bức tranh tượng khổ lớn được Raphael vẽ tại phòng chữ ký (Stanza della Segnatura) của Giáo hoàng ở Vatican. Trong đó, ông đề cao triết học Hy Lạp cổ đại, một điều không thể chấp nhận được với Thiên chúa giáo thời Trung cổ. Tất cả các mặt: Phối cảnh, hình hoạ, bố cục, màu sắc… được Raphael giải quyết 1 cách hoàn hảo đến mẫu mực. Trên nền cao của ngôi đền nguy nga tráng lệ, đồng thời cũng là trung tâm của bức tranh, Raphael đã thể hiện 2 triết gia vĩ đại là Platon và Aristotles vừa đi vừa tranh luận. Đây chính là những người đặt nền móng cho triết học châu âu. Xung quanh và những bậc thang thấp là những học giả, những đại biểu của tư tưởng, khoa học, nghệ thuật của các thời kỳ sau đó, suốt chiều dày lịch sử 2000 năm tới thời Raphael. Hơn 50 nhân vật được diễn tả trong 1 bố cục gắn bó chặt chẽ với tương quan sáng tối lý tưởng làm nổi bật các nhân vật trên 1 nền kiến trúc tầng tầng lớp lớp trong sáng và sâu thẳm.
Hai năm sau, khi Raphael vẽ bức Trướng Athenes, ông vẽ bức Đức bà Sistine cho nhà thờ Saint Sixto. Bức tranh có bố cục tài tình khéo léo với 6 nhân vật, tạo nên tam giác ổn định bền vững như mong muốn trường tồn của nhà thờ. Đỉnh cao trang nghiêm đường bệ là hình Đức Mẹ Đồng trinh bế Chúa Hài đồng với những nét tâm lý sâu sắc qua từ dáng ngồi đến ánh mắt, như tiên báo một con người sinh ra để làm những việc lớn lao phi thường. Xung quanh gương mặt ngời sáng của Đức Mẹ và Chúa Hài đồng là vầng hào quang kỳ ảo, nếu ta nhìn kỹ sẽ thấy vầng hào quang này soi rõ vô vàn những khuôn mặt đang hướng về Chúa. Hai bên là các nhân vật Saint Sixto và Barbara đang tôn vinh Đức mẹ và Chúa hài đồng, tất cả đang bồng bềnh trên mây. Bên dưới cận cảnh bức tranh được kết bởi 2 thiên thần hướng thượng. Màu sắc ở đây cao nhã và tha thiết. Những hình ảnh hết sức tôn nghiêm nhưng lại gần gũi lạ thường. Bức tranh này là bản tổng kết tuyệt vời của Raphael về đề tài tôn giáo và tình mẹ con để mãi mãi về sau chưa ai có thể vượt qua.
Chỉ sau 5 năm tới làm việc tại Roma, khi Giáo hoàng Julius II mất (1513) danh tiếng Raphael đã vang dội. Tài năng và sự uyên bác của ông đã ảnh hưởng to lớn tới giới hoạ sĩ trẻ ở Italia thời bấy giờ, Tiếp theo 7 năm cuối đời của ông, Raphael đã làm việc dưới thời Giáo hoàng Leon X, mặc dù phải đảm đương nhiều trọng trách, giám sát các công trình ở Vatican, ông vẫn lãnh đạo 1 tập hợp đông đảo các nghệ sĩ tài năng, trong đó có Jiulio Romano và Giovan Francesco Penni. Với hội họa Raphael tiếp tục sáng tạo nhiều tác phẩm đẹp và hoành tráng như: Bà Velata (La Donna Valata 1514, Phòng tranh Pitti, Florence), Đức mẹ ngồi ghế (the Madonna of the chair 1515, Phòng tranh Pitti, Florence), Đám cháy ở Borgo ( The fire in the Brogo 1515. Vatican), Mẻ lưới kì diệu ( the miraculous draught of fishes 1515, Bảo tàng Victoria và Albert, London)….
Raphael mất vào năm 1520 ở tuổi 37 trong vinh quang tuyệt đỉnh và sự nuối tiếc vô hạn của bạn bè và những người yêu thích tranh ông.

Disputation of the Most Holy Sacrament (1509-10)
Bức "Trường học Athens" - Raphael

Trong quá trình dọn dẹp Bảo tàng Vatican, các nhà phục chế đã bất ngờ phát hiện hai bức bích họa mà bậc thầy Raphael chưa kịp hoàn thành trước khi qua đời vào năm 1520. Kiệt tác 'Trường học Athens' của danh họa Raphael ở Vatican "Trường học Athens" là một trong những bức tranh sơn dầu nổi tiếng nhất của Raphael được hoàn thành vào khoảng năm 1511 theo đơn đặt hàng trang trí các phòng của Điện Tông Tòa.

Trường học Athens (School of Athens) là một trong bộ tứ tranh tường của Raphael, ra đời vào khoảng giữa giai đoạn 1509 - 1511. Tổng cộng, bức tranh có 21 triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại, như Pythagoras, Heraclitus... trong đó Plato và Aristotle được đặt ở trung tâm.
Kiệt tác Trường học Athens của Raphael. Trung tâm là Plato (trái) và Aristotle (phải), xung quanh là 19 triết gia nổi tiếng khác của Hy Lạp cổ.
Theo quan điểm của các nhà mỹ thuật hiện đại, đó là cách để Raphael thể hiện cách hiểu của mình về tư tưởng triết học. Triết học là một sự tương phản, với trung tâm là Plato và Aristotle với mối quan hệ thầy trò, nhưng tương phản về quan điểm.
Hai người này, một già - một trẻ; một giản dị, chân chất - một hào nhoáng; như đang tranh luận về một vấn đề nào đó, mà đa phần giới chuyên môn cho rằng đó là sự khác biệt về 2 trường phái triết học.
Đối với Plato, đó là thuyết Hình thức (theory of Forms) - nơi sự "tồn tại" là cái phi vật chất, là cái nhận biết được bằng trí tuệ siêu nhiên, còn "không tồn tại" là vật chất. Còn Aristotle, ông coi sự tồn tại vật lý là thực, và hiện thực là chân lý.
Đó là 2 trục tư tưởng triết học mà nhiều triết gia khác nương theo. Raphael không đứng về bên nào, mà cách thể hiện của ông dường như cho thấy ngôi trường của các triết gia không phải để họ ganh đua, mà vì một nhu cầu chung nhằm tìm kiếm tri thức và sự thật của cuộc sống.

Haddo Madonna

Haddo Madonna

La Fornarina (1518-20)

The Triumph of Galatea (1514)

Transfiguration (1560-20)

Trang trí Phòng tòa án trong Điện tông tòa ở Vatican

Nhà nguyện Chigi

WWW.CUAHANGTEMSACH.COM

Giao lưu tem thư sưu tập, cung cấp tư vấn nhiều thể loại tem thư vật phẩm sưu tập, nhiều chuyên đề tem mới nhất cho bạn
liên hệ: zalo & viber 0908338796